Tin Tổng Hợp

Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

Những khó khăn và thực trạng khi hội nhập kế toán Thế Giới

Từ khóa

Thị trường dịch vụ kế toán – kiểm toán thống nhất đã và đang hình thành trong khu vực các nước ASEAN và quốc tế và đòi hỏi sự chuẩn bị ở tất cả các nước thành viên về khuôn khổ pháp lý, về sự hài hoà các chuẩn mực kế toán , thu hẹp khoảng cách của sự khác biệt, về sự phối hợp và thống nhất của chương trình, nội dung đào tạo, huấn luyện , thi cử và đánh giá chất lượng đào tạo, chất lượng dịch vụ, về sự thừa nhận lẫn nhau các chứng chỉ hành nghề của mỗi quốc gia. Các nước sẽ đẩy mạnh xuất khẩu giáo dục sang nước ta nhằm thu lợi nhuận, nước ta trở thành thị trường giáo dục của nước khác, các trường trong nước có nguy cơ mất thị phần.

Tương tự như vậy trên lĩnh vực dịch vụ, nghiên cứu. Hiện nay các viện nghiên cứu nước ngoài đã thâm nhập vào thị trường trong nước, hình thành các công ty tư vấn nước ngoài nghiên cứu về thị trường, nghiên cứu tư vấn pháp luật , tư vấn kế toán – kiểm toán cho các doanh nghiệp mà các đơn vị tư vấn, các cơ sở nghiên cứu trong nước chưa có khả năng đáp ứng .Chính vì vậy, các vấn đề thuộc về khoa học kế toán được đặt ra:

- Môi trường cạnh tranh quyết liệt đòi hỏi có số liệu chính xác, phân tích kịp thời, đúng đắn để có những biện pháp, chính sách cạnh tranh thành công
- Khuôn khổ pháp lý ngày càng chặt chẽ, có nhiều biến động, thay đổi đòi hỏi bộ máy tài chính - kế toán phải thay đổi theo cho kịp thời. Mặt khác Tập đoàn chịu sự kiểm tra giám sát của Chính phủ, quốc hội... nên các báo cáo kế toán phải kịp thời, chính xác…
- Chính sách kế toán thay đổi theo hướng ngày càng phức tạp, hội nhập chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế nên đòi hỏi chất lượng đội ngũ ngày càng cao.
- các tổ chức như các Tập đoàn là đơn vị lớn, hoạt đông trên quy mô rộng, sản phẩm dịch vụ đa dạng, mô hình tổ chức phức tạp (sự nghiệp, độc lập, phụ thuộc, cổ phần, liên doanh...) nên đòi hỏi rất cao về chất lượng đội ngũ kế toán để đáp ứng được các yêu cầu về hợp nhất báo cáo tài chính, về công tác quản trị tài chính, phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ và của các đơn vị trong Tập đoàn.
- CácTập đoàn kinh tế hiện nay đang có định hướng đầu tư ra nước ngoài nên đòi hỏi có bộ máy kế toán tài chính am hiểu chế độ, chuẩn mực kế toán quốc tế để áp dụng, thực thi..
- Các trường đại học thiếu các thông tin kiến thức về nhu cầu thị trường trong vòng 10 đến 15 năm tới và trong tương lai xa hơn. Có thể nhận định thẳng thắn rằng thực tế Bộ Giáo dục và đào tạo cũng như các trường đại học chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào để có thể đảm bảo rằng trước khi phê duyệt hoặc giới thiệu các chương trình đào tạo nói chung và đào tạo kế toán nói riêng là vấn đề này được dựa trên khảo sát thị trường.
- Thực trạng về chương trình đào tạo kế toán – kiểm toán hiện nay : Theo Điều 39 Luật Giáo dục quy định về mục tiêu, nội dung và yêu cầu đào tạo ở trường đại học là : “Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo…” Tuy nhiên, khung chương trình cho chuyên ngành kế toán mà Bộ Giáo dục đào tạo ban hành chủ yếu nhấn mạnh đến phần giáo dục đại cương, các yêu cầu về kiến thức chuyên ngành còn rất thấp so với những yêu cầu của IFAC, đặc điểm này chưa thể hiện được tinh thần hội nhập trong chương trình đào tạo và phần nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp khi người học muốn tiếp tục theo học các chương trình đào tạo hay thi lấy bằng CPA ở các quốc gia khác theo chuẩn quốc tế sau khi tốt nghiệp .Có thể nói,hiện tại đặt hoàn toàn vào các trường đại học , trong khi chưa có một đánh giá về khả năng đáp ứng của chương trình đào tạo của các trường trong việc thoả mãn các kiến thức, kỹ năng cho người hành nghề kế toán – kiểm toán. Đặc biệt là chương trình đào tạo về tài chính, ngân hàng hoặc kế toán ngành ( ví dụ kế toán du lịch …) Theo số liệu thống kê hiện tại Việt nam hiện có khoảng 50 trường đại học có đào tạo chính quy về kế toán. Thời lượng đại học là 4 năm. Các chương trình đào tạo kế toán chính quy của Việt nam còn dạy quá nhiều môn khác. Thời lượng học kế toán chủ yếu là lý thuyết, ít có cơ hội thực hành nghề nghiệp
- Về giáo trình : Bên cạnh những giáo trình chỉ được biên soạn thuần tuý bởi chế độ kế toán nhưng cũng có không ít giáo trình hiện nay đã được biên soạn dựa trên các chuẩn mực kế toán cụ thể giáo trình của Khoa kế toán – kiểm toán trường Đại học kinh tế TPHCM. Tuy nhiên hầu hết các giáo trình này đều viết trên tinh thần của các Thông tư hướng dẫn chuẩn mực . Trên thực tế , đây chỉ là phần hướng dẫn thực hành nên hạn chế phần nào đến khả năng suy luận và phát triển kiến thức của sinh viên, cũng cần nhận thức một vấn đề là hệ thống chuẩn mực quốc tế vế trình bày báo cáo tài chính cũng luôn thay đổi. Do vậy, hiểu đúng bản chất các chuẩn mực và vận dụng vào điều kiện Việt nam là rất cần thiết.
- Về đội ngũ giảng viên : Theo Thứ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Vinh Hiển là Số giảng viên đại học hiện nay chỉ mới đáp ứng được 70% nhu cầu thực tế . Có thể nói nhận định này có thể dựa trên các cơ sở sau :
+ Sự phát triển quá nhanh chóng của quy mô đào tạo trong hơn 10 từ năm 1998 đến năm 2011 có trên 300 trường đại học , cao đẳng được thành lập mới hoặc nâng cấp , trong đó 2/3 có đào tạo ngành kế toán . Áp lực này còn tăng lên từ việc phát triển đồng thời với các hệ đào tạo không chính quy như : Vừa học vừa làm, liên thông từ Cao đẳng lên đại học , văn bằng 2, đào tạo từ xa…
+ Sự phát triển của nghề nghiệp thu hút nhân lực chất lượng cao, trong khi thu nhập của giảng viên các trường đại học không cao nên khó phát triển đội ngũ giảng viên từ những người có kinh nghiệm thực tế
+ Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, công tác giáo đào tạo , nghiên cứu đòi hỏi phải được chuyên môn hoá, đòi hỏi người thầy phải có trình độ ngoại ngữ. Hiện nay, đây cũng là một điểm yếu . Điều này sẽ gây khó khăn cho các trường đại học, các viện nghiên cứu khi mở rộng hoạt động và phát triển trong điều kiện hội nhập như vậy vấn đề giảng viên kế toán có chất lượng cao là một thách thức lớn cho các trường đại học cụ thể : Đội ngũ các giảng viên có học hàm, học vị thì không có ngoại ngữ hoặc có thì không nhiều hoặc có ngoại ngữ nhưng không phải tiếng Anh do trước đó họ được đào tạo ở các quốc gia không sử dụng tiếng anh , đội ngũ giảng viên trẻ có ngoại ngữ nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn .

Điểm 4.6/5 dựa vào 87 đánh giá

Bài liên quan


EmoticonEmoticon